Sau đây là lời chú giải cho lượng số của bạn:
Số 4 lượng 9
Số mạng xem ra phước chẳng khinh
Tự thân tự lập rạng môn đình
Tôi đòi trai gái trong ngoài đủ
kẻ dạ người vâng thật hiển vinh.
Nói chung, người có số lượng và số chỉ nầy, thường được quý nhân phò hộ Trắng tay tạo nên sự nghiệp, nhưng đời sống cũng không được bền vững, khi thạnh khi suyÂu đó chẳng qua là sự thử thách. Tuổi trung niên được nhiều người thương kẻ mến.
Mệnh bình giải
CAN CHI TƯƠNG HÒA: Người này có căn bản vững chắc và có đầy đủ khả năng đễ đạt được những gì họ có (không nhờ vào sự may mắn). Ngoài ra người này có cung Mệnh ở thế sinh nhập (cung mệnh ở cung dương). Thế thu vào, thế hưởng lợị Thường là người kỷ lưởng làm việc gì củng suy xét, tính toán cẩn thận trước khi bắt tay vàọ
Tuổi Hợi: Sao chủ Mệnh: CỰ-MÔN. Sao chủ Thân: THIÊN-CƠ.
Công danh, tài lộc ở mức độ bình thường, không có gì xuất sắc hơn người (TỬ-VI bình hòa).
TỬ-VI gặp TUẦN, TRIỆT, Sát-tinh: Đây là những hung đồ, nịnh thần, làm hại danh nghiệp của người khác, hay của chính bản thân mình. Thường phải tha phương lập nghiệp, yểu tử, gặp nhiều cảnh hiểm nghèo, công danh trắc trở. Nếu là Nữ Mệnh thì khắc chồng hại con, dâm đãng, đê tiện tuy có phần khá giả.
Người không gặp thời mà gặp nạn, không thể mưu đại sự được, cho dù có chí lớn (TỬ-VI gặp TUẦN, TRIỆT).
Lộc Phùng lưỡng sát: Bần-Tiện-Cách (Lộc (Hóa-Lộc hay Lộc-Tồn) tọa thủ Mệnh ngộ Không-vong lại phùng Không, Kiếp, Kiếp-Sát).
Mệnh có Thiên-Đức, Nguyệt-Đức và Đào-Hoa vợ chồng xứng đôị
Mệnh có TUẦN, TRIỆT: Tuổi thiếu niên nhiều vất vả. Mọi công chuyện đều phải tốn nhiều công sức (ba lần bảy lược mới được).
Thiên-Không, Đào-Hoa tọa thủ đồng cung: Đa mưu, túc trí. Ngoài ra còn có nghĩa là người thích ẫn dật, tu hành lúc tuổi già. Có câu phú nôm như sau: Thiên-Không hội với Đào-Hoạ Cầm kỳ thi họa tài ba tuyệt vờị Cơ mưu quyền biến hơn ngườị Ngàn năm mệnh bạc là đời tài hoạ Trích TỬ VI ĐẨU SỐ TOÀN THƯ của Vũ-Tài-Lục trang 114.
Có sức thủ hút, quyền rũ, vui vẻ, mau mắn, đa tình, có duyên. Có khiếu về mỹ thuật, âm nhạc nhưng thường thiếu kiên nhẩn và hay bỏ dở công việc. Về hôn nhân, đàn bà có thể có hai đời chồng. Đào, Hồng đóng ở nữ mệnh mà cung Phụ - mẫu có Tang - Môn, mà hạn khi đến cung mệnh chắc phải góa chồng hay bỏ chồng (Đào-Hoa (Mộc)).
Thông minh, học rộng, có tài tổ chức, có nhiều sáng kiến, biết quyền biến theo nhiều hoàn cảnh. Tính nhân hậu, từ thiện, đoan chính (Lộc-Tồn (Thổ)). Khắc chế được tính lã lơi của Đào-Hoa, Hồng-Loan. Ngoài ra còn được vinh hiễn, sống lâụ Nếu bị THIÊN-CƠ, Địa-Không, Địa-Kiếp hội hợp, nên thoát tục mới được thanh nhàn. Ngoài ra Lộc-Tồn còn báo cho biết được hưởng của cải của tiền nhân để lạị
Người khôn ngoan, lanh lẹ hơn người, ưa lấn lướt. Theo đường chánh thì dễ thành công. Thông minh, vui vẻ, hòa nhã, nhân hậu, từ thiện (Thiếu Dương (Hỏa)).
Tính chất gian hùng, phá tán, qủi quyệt. Mệnh có Thiên Không hội với Đào Hoa là hạng đa mưu, nhưng xảo trá.
Đa mưu, thủ đoạn. Làm thất bại trên quan trường, sự chậm thăng trong chức vụ, sự tiêu tan tài lộc. Có khả năng xét đoán chính xác về chính trị, xã hội và tôn giáọ Về tình duyên thì lại hay bị cái ách gió trăng như lụy vì tình. Về sự nghiệp thì chung cuộc cũng không có gì, cách duy nhất là tu thân mới may ra có được tiếng tốt lúc về già (Thiên-Không (Hỏa)).
Tuổi trẻ lận đận, nghèo, cực khổ, bôn ba, hay đau ốm. Có thể mồ côi sớm hay sớm ra đời lập nghiệp. Sinh bất phùng thờị Nếu có Tứ hay Tam-Không thì làm nên danh phận nhưng không bền, và tuổi thiếu niên vất vả (TUẦN ở Mệnh).
Tuổi trẻ lận đận, nghèo, cực khổ, bôn ba, hay đau ốm. Có thể mồ côi sớm hay sớm ra đời lập nghiệp. Sinh bất phùng thờị Nếu có Tứ hay Tam-Không thì làm nên danh phận nhưng không bền, và tuổi thiếu niên vất vả (TRIỆT ở Mệnh).
Thâm trầm, kín đáo, hay suy nghĩ sâu xa, đa sầu, đa cảm (bi quan). Có tài tính toán, biết mưu cơ kế hoặch. " Tử là giai đọan già nua suy yếu của ngũ hành. Lực không còn theo tâm nữa; cần phải được sự phù giúp mới có thể thành công." (Trích sách Tử Vi đẩu số toàn thư của Vũ Tài Lục trang 266)
Nếu bạn tin vào thuyết "Nhân Qủa" thì người tuổi Hợi có sao Thiên-Tài ở HUYNH-ĐỆ: Nên biết che chỡ, bao bọc, giúp đở cho anh chị em trong nhà thì sẻ được đền bù xứng đáng (trích TỬ VI CHỈ NAM của Song-An Đỗ-văn-Lưu, Cam-Vũ trang 286).
Thân bình giải
Thân cư Tài-Bạch: Người đời đánh giá trị đạo đức và nhân phẩm của con người trên cách xữ dụng đồng tiền. Giàu mà nhân đức hoặc nghèo mà thanh bạch. Ngoài ra đồng tiền cũng là thước đo sự thành công trên đường đời (về mặt vật chất) và là căn bản của hạnh phúc. Thành ra cung này còn nói cho ta biết người này có phải là người làm nô lệ cho đồng tiền hay làm chủ đồng tiền. Ngoài ra tài chánh của người này liên quan rất mật thiết với nghề nghiệp của họ.
Thân có Thiên-Đức, Nguyệt-Đức và Đào-Hoa vợ chồng xứng đôi .
Thân có Tướng-Quân, Lộc-Tồn và Thiên-Mã là kẻ giàu sang, anh hùng.
Phụ Mẫu bình giải
Được cha mẹ thương yêu đặc biệt hay cóù thể có cha mẹ nuôi hay đở đầu (Ân-Quang, Thiên-Quí).
Cha hay mẹ có tật hoặc bị điếc hay cóù thể bị mất sớm hoặc chia ly (Kình Dương, Đà-La).
Sớm khắc một trong hai thân nếu không, tất phải sớm xa cách hai thân (TUẦN, TRIỆT đồng cung).
Phú: "Kình Đà cha mẹ cùng con bất đồng" Lúc nhỏ đã khắc với cha mẹ (Kình).
Cha mẹ là người cô độc không thân với nhiều người, tự kiêu, tự mãn, khắc nghiệt (Đẩu-Quân (Hỏa)).
Cha mẹ nhanh nhẹn, can đảm, tính tình mạnh bạo, có sức khỏe, uy quyền, rất tháo vát (Lực-Sỉ (Hỏa)).
Phúc đức bình giải
Bạc phúc nên giảm thọ, thường mắc phải tai bay vạ gió, dù đề phòng cách mấy cũng khó tránh được. Phải ly tổ sớm xa gia đình may ra mới được yên thân. Họ hàng càng ngày càng sa sút (PHÁ đơn thủ tại Dần).
Được rất nhiều con cháu (Thanh-Long (Thủy)).
Được hưỡng phúc khỏi phải lo lắng những lúc túng thiếụ Tránh được nhiều tai họa, họ hàng giàu có (Hóa-Lộc (Mộc)).
Điền trạch bình giải
Chú ý: cung Điền xấu thì con người nghèo về nhà cửa, ruộng vườn, xe cộ, hoa màu, cơ xưởng làm ăn, vật phẩm sản xuất. Cung Điền xấu không có nghĩa là nghèo tiền bạc (trích Tử-Vi Tổng Hợp của cụ Nguyễn Phát Lộc, trang 398).
Mua tậu nhà đất một cách nhanh chóng. Nhưng đã mua nhanh, tất bán cũng nhanh (Địa-Không, Địa-Kiếp).
Nhà cửa cao rộng, đẹp đẽ (Long-Trì, Phượng-Các).
Bị kiện mà phải bán nhà (Quan-Phù, Thái-Tuế, Đại-Hao, Tiểu-Hao, Địa-Kiếp).
Không được thừa hưởng tổ nghiệp (Vô - chính - Diệu).
Không có nhiều điền sản. Nếu may mắn gặp Địa-Không, Địa-Kiếp đắc địa thì nhà cửa, đất đai được mua đi bán lại liền tay (Tiểu-Hao, Địa-Không, Địa-Kiếp).
Phú: "Lưỡng Hao chiếu vào Điền Tài, Tán nhiều tụ ít mấy ai nên giàu". Kiếm ít tiêu nhiều giàu sao được. Không có nhiều nhà cửa, đất đaị Dù có cũng phải bán hoặc bị hao tốn vì phải thay đổi chổ ở (Tiểu-Hao (Hỏa)).
Có thể tài sản không có gì hay tài sản bị sang đoạt, bị phá sản, bị tai họa về tài sản (nhà cháy, ...) hoặc sang đoạt hay tạo lập tài sản bằng phương pháp táo bạo, ám muội (Địa-Kiếp (Hỏa) hãm-địa).
Quan lộc bình giải
Phú quí song toàn. Lập được nhiều chiến công. Có uy quyền hiễn hách (LIÊM, PHỦ đồng cung).
Nô bộc bình giải
Có thể có con dị bào (NGUYỆT, Thiên-Phúc).
Gặp người giúp việc đắc lực, tài ba (Thiên-Việt (Hỏa)).
Gặp được tôi tớ đắc lực, trung tín (Thiên-Quí (Thổ)).
Thiên di bình giải
Ra ngoài rất bất lợi hay gặp những sự phiền lòng. Sau này chết ở xa nhà. Tuy nhiên nếu ở nơi đông đúc hay có lộc bất ngờ (THAM tại Ngọ).
Có bằng sắc phẩm hàm (Thai Phụ ngộ Phong Cáo).
Chết đường (THAM, Kỵ).
Phú: "Thiên Di Hoá Kỵ ra ngoài, Kẻ thù người oán chẳng ai gần mình."
Hay giúp đở người khác và được nhiều người khác giúp đở (Thiên-Quan (Hỏa)).
Hay mắc thị phi và gặp nhiều sự phiền lòng. Ngoài ra có thể người này làm công việc liên quan đến hóa chất hay liên quan đến quality control, environmental protection, ISO, những nghề làm đụng chạm tới quyền lợi của kẻ khác như thanh trạ Đặc biệt khi có Thân cư Thiên-Di (Hóa-Kỵ (Thủy)).
Tật ách bình giải
Bệnh tâm-khí (ĐỒNG, CỰ đồng cung).
Dễ bị đau bụng do bộ phận tiêu hóa kém (ĐỒNG).
Bệnh tâm khí (CỰ, ĐỒNG).
Bệnh ở hạ bộ. Ít tuổi có mụn, mặt có tì vết (CỰ).
Môi thâm (Cự hãm địa).
Mắc bệnh ở hậu môn hay đau bụng đi tiêu chảy (Hỉ-Thần (Hỏa)).
Nếu có nhiều sao cứu giải thì qua khỏi bệnh tật một cách nhanh chóng bất ngờ. Nếu có nhiều sao tác họa thì rất nguy nan (Hóa-Quyền (Thủy)).
Phổi yếu, hay ho vặt. Thận kém (Khốc (Thủy)).
Tài bạch bình giải
"Đại Phú do Thiên, Tiểu Phú do cần cù".
Chú ý: Cung Tài chỉ diễn tả tình trạng sinh kế tổng quát của cuộc đời, chớ không mô tả hết sự thăng trầm của từng giai đoạn. Thành thử, muốn biết cái nghèo trong từng chi tiết, trong từng thời kỳ, người xem số phải đoán các cung Hạn (trích Tử-Vi Tổng Hợp của cụ Nguyễn Phát Lộc, trang 398).
Của cải chồng chất hay gặp quí nhân giúp đở (VŨ, TƯỚNG).
Phải nhờ nhan sắc mới dễ kiếm tiền (Đào-Hoa, Hồng-Loan).
Thích cờ bạc (Văn-Khúc (Thủy)).
Tử tức bình giải
Muộn sinh mới cóù ba con. Nếu sớm sinh tất khó nuôi con, khổ sở vì con (NHẬT, LƯƠNG đồng cung tại Dậu).
Nhiều con, đông con (Đế-Vượng, Trường-Sinh).
Có con nuôi rất hiếu thảo (Ân-Quang, Thiên-Quí).
Sinh nhiều nuôi ít. Con khó nuôị Con hay chơi bời phá tán, không ở gần cha mẹ được (Đại-Hao, Tiểu-Hao).
Có con hiếu thảo và được cha mẹ thương yêụ Có thể có con nuôi (Ân-Quang (Mộc)).
Phu / Thê bình giải
Khắc chồng, khắc vợ và gián đoạn gia đạo nhiều lần, đặc biệt khi Phúc, Mệnh, Thân xấụ Trai, gái phải hai ba lần lập gia đình. Rất nhiều tại ương xãy ra trong cuộc sống chung (SÁT đơn thủ tại Tuất).
Phú: "Vợ chồng nay tan mai hòa, Phục-Binh Hóa-Kỵ một tòa Thê cung". Vợ chồng bị ngăn trở lúc lấy nhau hay gia đạo bất hòa (Hóa-Kỵ, Phục-Binh).
Người phối ngẩu có bằng sắc (Thai Phụ, Phong Cáo).
Cô đơn, cô độc vì người phối ngẫu không hiễu mình, không bênh vực cho mình hoặc sống chung với nhau nhưng không có sự thắm thiết hầu như mỗi người có nỗi ưu tư riêng, khác biệt nếp sống, ít khi đồng tình hoặc đồng ý với nhaụ Tuy nhiên nếu không có nhiều sao xấu chiếu thì vợ chồng vẫn chung sống hòa thuận, hạnh phúc (Cô-Thần, Quả-Tú).
Vợ hiếm anh chị em (Qủa Tú) Ngộ đại tiểu hạn có Hồng Đào hoặc 1 hay 2 KHÔNG thì trai góa vợ, gái góa chồng.
Quen nhau, thường đi lại với nhau rồi mới cưới hỏị Còn có nghiã là sự đổi ý của người con trai hay con gái, sau khi yêu nhau rồi mới khám phá ra những chổ kẹt, chỗ ngang trái khiến không thể lấy nhaụ Nó cũng tượng trưng cho sự chống đối mạnh mẽ của cả hai bên nhà trai nhà gái, hoặc một bên và thường do cha mẹ chủ xướng, tức là những người có quyền quyết định tối hậu cuộc tác thành (Phục-Binh (Hỏa)).
Người phối ngẫu là người có trực tính. Có chuyện gì thì hay nói thẳng ra không biết rào trước đón sau (Trực phù).
Người phối ngẫu rất sành điệu trong việc ăn uống (Thiên Trù).
Huynh đệ bình giải
May mắn lắm mới cóù hai người (CƠ đơn thủ tại Hợi).
Anh chị em xung khắc (Đà).
Trong nhà anh chị em thường xung khắc hay ghen ghét nhau (Thiên-Hình (Hỏa)).
