Bài sưu tầmTôi rất may mắn được lang thang khắp nhiều vùng ở Tây Bắc, được gặp gỡ và tiếp xúc với nhiều phụ nữ người dân tộc, từ Dao, Tày, Nùng cho đến Mường, H’Mông trên những bản làng xa xôi quanh năm mây phủ cho đến các khu chợ, các thị trấn vùng cao sặc sỡ sắc màu thổ cẩm… Và tôi nhận ra một điều, không có người phụ nữ của dân tộc nào cần cù, chịu thương, chịu khó và nhẫn nhục… như người phụ nữ dân tộc H’ Mông. Họ làm đủ mọi việc, từ nặng đến nhẹ, từ làm nương, cuốc rẫy đến thêu thùa, dệt vải… mà không kêu than mệt nhọc, cũng không thắc mắc các ông chồng lúc đó đang làm gì, họ lặng lẽ, chịu đựng... đúng như một bài thơ đã viết về họ:
“Đàn bà Mông rất đỗi thương chồng
Chồng ăn cơm, mình ăn mèn mén
Quạt không rời tay khi chồng say sỉn
Tiếng cười theo vó ngựa thời gian…”
Nếu ai đã một lần đi tới các khu chợ vùng cao, các bản làng, trên những con đường ngược xuôi về bản thì hẳn sẽ ít nhiều nhận ra điều đó. Với chiếc gùi trên lưng, đôi chân sải bước thoăn thoắt trên đường lên nương, xuống chợ, trong khi đôi tay vẫn mải miết tước từng sợi lanh là hình ảnh quen thuộc nhất của người phụ nữ H’ Mông. Họ là vậy, làm việc không ngơi nghỉ, chăm chỉ như con ong lấy mật trên rừng. Phụ nữ H’Mông đảm đang, chịu khó, là những người chăm lo, vun vén gia đình và làm hầu hết mọi việc từ nấu ăn, giặt giũ, kiếm củi, gùi nước, trông con cho đến xuống chợ, làm nương... Mỗi ngày của họ bắt đầu từ khi con chim rừng chưa hót sáng cho đến lúc nó đã tìm chốn ngủ từ lâu…
Nhà có khách, trong khi chủ và khách say sưa chuyện trò, nước, thuốc thì người vợ lặng lẽ lo làm cơm đãi khách. Đến bữa ăn, đàn ông ngồi ăn, uống rượu, nói chuyện vui vẻ còn người phụ nữ thì cứ cặm cụi dưới bếp bởi luật tục của người H’Mông là vậy, phụ nữ thường ăn cơm sau khi chồng và những người trong gia đình đã ăn xong hết, đến lúc dọn xuống dưới bếp rồi họ mới bắt đầu ngồi ăn… Đàn ông H’Mông thường uống rượu rất nhiều và bất kể mọi lúc, mọi nơi, có những người mải mê với men rượu quên hết công việc gia đình, người đàn bà không những phải làm hết thảy công việc mà còn phải phục vụ vô điều kiện, không một lời ta thán…
Công việc trong nhà đã vậy, công việc ngoài rẫy, ngoài nương cũng chẳng khác gì, hầu như hiếm khi thấy bóng dáng người đàn ông H’Mông cuốc cày, tra hạt… Chỉ có người phụ nữ phải nai lưng ra làm, khi đang nuôi con nhỏ họ vẫn phải làm việc với đứa con nghiêng ngả trên lưng. Rồi đến việc đi rừng lấy củi cũng một tay người phụ nữ và những em bé gái. Hình ảnh hai mẹ con cõng củi về bản trên những con đường dốc là hình ảnh thường thấy khi chiều xuống ở vùng cao…
Ngày này qua ngày khác, tháng này vắt tháng nọ, năm này nối năm kia, cuộc sống của người phụ nữ H’Mông vẫn chỉ quanh quẩn với chồng con, công việc, không niềm vui, không sự sẻ chia… Họ có một vai trò to lớn và quan trọng như thế nhưng nhiều khi vô tình họ vẫn bị quên đi… Họ sinh ra đã phải mang gánh nặng sự ràng buộc của những quan niệm và luật tục cũ. Bây giờ, dù đã có nhiều sự thay đổi, nhưng để có một sự nhìn nhận công bằng đối với họ vẫn còn là hành trình dài như chiều dài của những con đường núi heo hút dẫn về bản...
Tôi đã nhiều lần được chứng kiến hình ảnh người đàn bà H’Mông ngồi đợi chồng uống rượu và chăm sóc khi chồng say xỉn ở các phiên chợ vùng cao, các hội hè, đình đám hay bên những vệ đường... Hình ảnh đó toát lên cả tình yêu thương lẫn sự nhẫn nhục, cam chịu mà có lẽ những phụ nữ dưới xuôi không bao giờ có được. Và, đó cũng chính là hình ảnh gây ấn tượng mạnh nhất đối với tôi trong mỗi lần lên vùng cao. Trên những con đường từ nhà xuống chợ, tôi thường gặp cái hình ảnh mà người Kinh cho là ngược đời, chồng ngồi trên lưng ngựa, còn vợ thì đi bộ phía sau.
Đến chợ, người chồng sà vào hàng rượu với bạn bè, cứ thế uống, cứ thế say, bát rượu ngô vơi rồi lại đầy, đầy rồi lại vơi… Chợ phiên thiếu gì thì thiếu chứ rượu thì không bao giờ thiếu. Người vợ, sau khi mua bán, trao đổi những hàng hóa cần thiết cho cả gia đình trong một tuần tiếp theo thì ngồi đợi. Họ đợi mà không mảy may tính toán thời gian, không giục giã, đợi trong im lặng. Người vợ H’Mông có thể đợi chồng một giờ, hai giờ, một buổi... thậm chí đợi hết cả ngày. Khi nào chồng tỉnh và muốn về họ mới thôi đợi, cả hai dắt ngựa ra về, ngả nghiêng theo những con đường núi mịt mù sương… Với chiếc ô đen trong tay, họ luôn xoè ra che cho chồng bất kể mưa hay nắng, bất kể ngày hay đêm...
Trong một lần trên đường xuống bản Cát Cát ở Sa Pa, tôi và người bạn rất thân của mình được ngồi nói chuyện với một người phụ nữ bán hàng mới từ dưới Mỹ Lộc, Nam Định lên được vài năm. Cô ấy theo con lên đây mở quán bán hàng cho cả dân bản và khách du lịch. Cô kể, lần đầu tiên được chứng kiến cảnh mấy bà vợ người Mông, tay cầm ô, im lặng đợi chồng ngoài sân nhà cô từ sáng tới tối mịt mà thấy lạ lùng quá. Tàn cuộc rượu trong quán nhà cô, mấy ông chồng liêu xiêu ra về nhưng chẳng thể cất nổi bước chân, cứ xiêu xiêu, vẹo vẹo. Lúc này các bà vợ đồng loạt tới đỡ chồng rồi dìu về nhà. Có ông say quá, vùng vằng, vừa chửi vừa liên tục hất tung chiếc ô mà người vợ đang che sương cho mình… Rồi cô kết luận: Tình thương yêu và sức chịu đựng của người đàn bà Mông thật to lớn…
Ngoài sự chịu thương, chịu khó, nhẫn nhục người phụ nữ H’Mông còn nổi bật ở sự khéo léo và tinh tế. Lên bản Mông hay đi chợ phiên ta dễ dàng bắt gặp những chiếc áo của đàn ông được thêu thùa tinh tế, những chiếc váy xoè rực rỡ của người phụ nữ, những tấm thổ cẩm sặc sỡ… Tất cả đều từ bàn tay khéo léo, sự tinh tế và cần cù của người phụ nữ làm ra. Với họ, ở bất cứ nơi đâu, làm bất cứ việc gì cũng thấy họ cầm trên tay cuộn lanh, tấm thổ cẩm và cây kim...
Đi qua nhiêu bản làng cheo leo, sương giăng khói phủ, xuống nhiều phiên chợ rực rỡ sắc màu, được chứng kiến sự đảm đang, chăm chỉ trong công việc, sự cam chịu, nhẫn nhục trong tính cách của người phụ nữ H’Mông mà ta cảm thấy xót lòng. Tại sao, người phụ nữ dân tộc này có những phẩm chất tuyệt vời như vậy mà lại ít được coi trọng, thậm chí bị lãng quên, họ sống lặng lẽ như “con rùa nơi xó cửa”. Phải chăng, người phụ nữ Mông sinh ra đã phải mang nặng sự ràng buộc theo quan niệm cũ dân tộc mình như đôi chân của họ quanh năm buộc kín chiếc xà cạp?
Bình luận của huuhung:Có thể phụ nữ Mông không xinh đẹp bằng phụ nữ Kinh, nhưng trong mắt tôi (một người Kinh) tôi xin được bày tỏ tình yêu, sự cảm phục và lòng kính trọng đối với những người phụ nữ Mông. Trong con mắt tôi, họ còn đẹp hơn gấp mấy lần những người phụ nữ Kinh (tuy không phải là tất cả) nhõng nhẽo bắt chồng chiều hay những người phụ nữ đành hanh bắt nạt chồng.
Có thể những ông chồng người Mông không biết họ đang có một tài sản quý giá như thế nào trong tay...