Trong giao tiếp, ngôn ngữ là công cụ
quan trọng số một. Hiểu biết và khéo
léo trong việc sử dụng ngôn ngữ phù
hợp là một trong yếu tố góp phần gây
thiện cảm đối với người đối diện, tạo
sự thành công trong giao tiếp. Chúng ta có thể tham khảo những ý kiến
dưới đây
về sự giao tiếp bằng ngôn ngữ:
1.1 Lời nói phải đúng vai xã hội , đúng cương vị xã hội của con
người.Khi giao tiếp với ai, chúng ta
hãy định hướng cho cách giao tiếp
ứng xử của mình sao cho phù hợp,
không tự phụ kiêu căng mà cũng
không tự ti, khúm núm.
1.2 Lời nói phải phù hợp với trình
độ người nghe. Trình độ quá chênh lệch về ngôn ngữ giữa người nói và
người nghe có thể gây khó hiểu hoặc
hiểu lầm.
1.3 Bảo đảm nguyên tắc truyền đạt
một thông điệp : rõ ràng, rành mạch, không có những từ, những câu thừa,
nhưng mặt khác lại cho phép ở một
số chỗ nào đó cần có sự lặp lại ít
nhiều với mục đích nhấn mạnh, nêu
bật những ý cần thiết.
1.4 Cách nói cơ giới và cách nói tình
thái: + Nói cơ giới là nói thẳng, nói vỗ mặt.
Ví dụ: tôi không có, tôi không cho,tôi
bỏ, tôi cắt, anh nói sai.
+ Nói tình thái là nói tế nhị, có tình
cảm, làm cho người nghe có thể tiếp
thu thỏai mái nội dung câu nói. Ví dụ:Tôi e rằng đánh giá như thế là
chưa thỏa đáng.Hai vấn đề đó tưởng
không nên nhập làm một.Nội dung
tốt, chỉ tiếc là thái độ hơi gay gắt…
Khoanh tay lại, hứa với cô đi nào!Có
muốn được cô khen không?Có muốn được lên lớp không?...
Trái với nói tình thái là nói nặng, nói
hù dọa:
Chú ý vào sách! Cô gọi, không đọc tiếp
được là cô cho điểm 1 đấy nhé!
1.5 Cách nói chỉ rõ và nói gợi, nói ví : Nói chỉ rõ sự việc là nói trực diện, như
2 với 2 là 4.Nói gợi là nói đến một dấu
hiệu gì đó có liên quan để người nghe
tự hiểu. Nói ví là một cách nói
gợi,dùng sự so sánh
Ví dụ để phê bình một bài diễn văn nhậm chức sáo rỗng: “ Bài này cho
đăng vào một tạp chí văn hóa nghệ
thuật thì tuyệt! 1.6 Cách nói triết lý: Cách nói này được dùng để giảm thiểu nỗi bất
hạnh của người đối diện. Ví dụ:Của đi
thay người!
1.7 Nói hiển ngôn và nói hàm ngôn: Hiển ngôn là lời nói có nghĩa biểu hiện
trực tiếp ra ngòai, còn hàm ngôn là lời
nói có nghĩa ẩn bên trong, đòi hỏi
người nghe phải cố gắng để hiểu, để
giải mã câu nói.
Ví dụ: + Ở trong phòng họp, A nói:Nóng
quá!,
B nói:Ừ, nóng như lửa!
Câu nói
của A trong trường hợp này này là
hiển ngôn, không có hàm ngôn.
+ Ở nhà riêng của B, A nói:Nóng quá!
B bảo:Có chai bia đây!
Câu nói của A vừa là hiển ngôn ( trời nóng ) vừa là
hàm ngôn ( cho uống gì đi )
Theo Ducrot, hiển ngôn là cái người ta
nói ra, còn hàm ngôn là cái người ta
muốn mà không nói ra.
1.8 Nói mỉa mai, châm chọc: Theo Paul Guth và Michelle Maurois, tự ái rất
nên giữ vì đó là tình cảm của con
người có phẩm cách. Vì vậy chúng ta
nên tôn trọng cái tự ái của mỗi người
và tránh không làm tổn thương đến
nó bằng những cách nói gợi ý, tế nhị hơn. Đừng nói đùa châm chọc, nhất là
đối với những người quá nhạy cảm.
1.9 Nói gây bệnh cho người khác: Làm gì mà bà xanh xao, tiều tụy đến
thế?
Một câu nói đó có thể làm tiêu tan
công hiệu của mười hộp thuốc bổ,
người nghe có thể chưa bị bệnh
nhưng nghe câu nói đó có thể bị ám thị mà bệnh thật.